Cơ hội phát triển mới cho vùng ĐBSCL

Cơ hội phát triển mới cho vùng ĐBSCL

Có thể nói, quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn năm 2050 là bản quy hoạch đầu tiên được lập theo cách tiếp cận tích hợp đa ngành theo Luật Quy hoạch, nhằm cụ thể hóa tầm nhìn, quan điểm, mục tiêu phát triển ĐBSCL thuận thiên, chủ động thích ứng biến đổi khí hậu theo tinh thần Nghị quyết số 120…

Ngày 21-6, tại TP Cần Thơ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030; cùng tham dự hội nghị có các đồng chí: Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; Lê Văn Thành, Phó Thủ tướng; cùng lãnh đạo các bộ ngành Trung ương, lãnh đạo các tỉnh ĐBSCL và TPHCM…

Cơ hội phát triển mới cho vùng ĐBSCLCác đồng chí chủ trì hội nghị. Ảnh: Trung Phạm 

Đột phá chiến lược

Bộ trưởng Bộ KH-ĐT Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh, ĐBSCL có vị trí, vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước. Kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL đã đạt kết quả khá toàn diện, trở thành vùng trọng điểm nông nghiệp, là trụ đỡ bảo đảm an ninh lương thực, có nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực, nhất là lúa gạo, thủy sản, trái cây. Tuy nhiên, sự phát triển của vùng còn khó khăn, chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế, do nhiều nguyên nhân nội vùng và ngoại vùng. Chính vì vậy, quy hoạch ĐBSCL lần này nhằm cụ thể hóa và triển khai tư duy mới, tầm nhìn mới; từ đó mở ra các cơ hội phát triển mới, đồng thời định hình các giá trị mới cho vùng ĐBSCL phát triển.

Cơ hội phát triển mới cho vùng ĐBSCL ảnh 2Bộ trưởng Bộ KH-ĐT Nguyễn Chí Dũng phát biểu 

Cũng theo Bộ trưởng KH-ĐT, ngay sau khi quy hoạch được phê duyệt, Bộ phối hợp với các bộ ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch, bao gồm 4 nhóm nhiệm vụ trọng tâm là: Phát triển kinh tế nông nghiệp giá trị cao, hiệu quả cao, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Phát triển khu vực đô thị – công nghiệp động lực, trong đó tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, liên tỉnh, hệ thống logistics, hạ tầng kỹ thuật của khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; các công trình nguồn và lưới điện, phát huy có hiệu quả tiềm năng về dầu khí và năng lượng tái tạo. Xây dựng môi trường sống tốt, điểm đến hấp dẫn. Quản lý, điều phối thực hiện quy hoạch vùng… Ngoài ra, để tiếp tục ưu tiên đầu tư cho vùng ĐBSCL, trên cơ sở kiến nghị của Bộ KH-ĐT, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 973 ngày 8-7-2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 26 ngày 14-9-2020 về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2025, trong đó quy định các tiêu chí tính điểm của vùng ưu tiên cao hơn các vùng khác trong cả nước.

Theo đó, Quy hoạch xác định các đột phá mang tính chiến lược như: Thứ nhất, phát triển vùng ĐBSCL theo hướng bền vững, tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, dựa trên các trụ cột “kinh tế – xã hội – môi trường; chú trọng bảo vệ, tôn tạo và phát triển hệ sinh thái tự nhiên hướng tới một mô hình kinh tế xanh, lấy con người làm trung tâm”.

Thứ hai, biến thách thức thành cơ hội, chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn; chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng gia tăng hiệu quả và giá trị, trong đó chú trọng huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực về con người và khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế vùng theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; công nghiệp năng lượng là đột phá, dịch vụ là bệ đỡ.

Cơ hội phát triển mới cho vùng ĐBSCL ảnh 3Các đại biểu quốc tế dự hội nghị. Ảnh: Trung Phạm 

Thứ ba, thay đổi tư duy về an ninh lương thực từ việc phát triển nông nghiệp dựa vào cây lúa sang thủy sản – trái cây – lúa gạo phù hợp với thị trường, trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại phân vùng sản xuất dựa trên tài nguyên nước và thổ nhưỡng.

Thứ tư, chuyển đổi mô hình phát triển từ phân tán, nhỏ lẻ sang tập trung cả về nông nghiệp, công nghiệp và đô thị; phấn đấu đến năm 2030 vùng ĐBSCL trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới trên cơ sở tập trung nguồn lực đầu tư các hành lang phát triển, khu vực phát triển động lực, trung tâm đầu mối nông nghiệp được xác định trong quy hoạch.

Thứ năm, tập trung phát triển kết cấu hạ tầng với vai trò bệ đỡ cho phát triển kinh tế- xã hội và thúc đẩy liên kết vùng, đặc biệt chú trọng đến phát triển hạ tầng giao thông, nhất là các tuyến kết nối với TPHCM và vùng Đông Nam bộ thông qua 2 trục cao tốc đường bộ, tuyến đường thuỷ nội địa và tuyến đường sắt nối TPHCM với TP Cần Thơ trong tương lai. Phát triển tuyến đường bộ ven biển từ Tiền Giang đến Kiên Giang, gắn với kiểm soát xâm nhập mặn, sắp xếp lại dân cư, bảo đảm quốc phòng an ninh, hình thành hành lang kinh tế mở, hướng ra biển. Đến năm 2030, đầu tư xây dựng mới và nâng cấp khoảng 830 km đường bộ cao tốc; khoảng 4.000 km đường quốc lộ; 4 cảng hàng không; 13 cảng biển, 11 cụm cảng hành khách và 13 cụm cảng hàng hóa đường thủy nội địa.

Thứ sáu, tập trung phát triển hành lang đô thị công nghiệp từ Cần Thơ đến Long An kết nối với TPHCM và vùng Đông Nam bộ, cùng hệ thống 8 trung tâm đầu mối về nông nghiệp; phát triển hành lang kinh tế, đô thị dọc sông Tiền, sông Hậu từ An Giang đến Sóc Trăng gắn với phát triển cảng biển Trần Đề nhằm kết nối, giao thương quốc tế về đường bộ gắn với đường thủy nội địa và hàng hải.

Thứ bảy, thay đổi tư duy về khai thác, sử dụng tài nguyên nước: coi nước mặn, nước lợ là một nguồn tài nguyên bên cạnh nước ngọt; chuyển từ đáp ứng nhu cầu sang chủ động quản lý nhu cầu về nước; khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp với phân vùng chức năng của nguồn nước.

Thứ tám, chú trọng bảo tồn các cảnh quan, sinh thái, văn hóa lịch sử, văn hóa dân tộc, văn hóa sông nước đặc thù của vùng. Đặc biệt là thành lập và vận hành hàng lang đa dạng sinh học ở khu vực ven biển từ Vườn quốc gia mũi Cà Mau đến khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ; phát triển các không gian văn hóa đặc thù của vùng như văn hóa sông nước, văn hóa các cộng đồng dân tộc thiểu số với phát triển du lịch.

Thứ chín, tăng cường liên kết phát triển giữa các địa phương trong vùng ĐBSCL với TPHCM và vùng Đông Nam bộ; mở rộng giao thương với các nước trong khu vực ASEAN, đặc biệt là các nước thuộc Tiểu vùng sông Mê Công nhằm khơi thông, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội.

Cơ hội phát triển mới cho vùng ĐBSCL ảnh 4Quang cảnh hội nghị . Ảnh: Trung Phạm  

Chủ động mở rộng không gian liên kết

Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan đánh giá cao quy hoạch nhất quán quan điểm phát triển vùng ĐBSCL bền vững, tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, chú trọng bảo vệ, tôn tạo và phát triển nền tảng văn hóa – xã hội và hệ sinh thái tự nhiên, lấy “con người” làm trung tâm. “Theo nhiều chuyên gia, quy hoạch này sẽ là bước ngoặt để kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL được kích hoạt, tiềm năng sẽ được đánh thức, bởi những vấn đề nội tại dần được khắc phục…”, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nói. Theo đó, quy hoạch nông nghiệp hướng đến tính tổng thể, chiến lược, chứ không chỉ là “phép cộng công thức” đơn thuần. Quy hoạch có tính “mở”, tính linh hoạt tương đối, để có thể chủ động thích ứng với xu thế biến đổi liên tục, không ngừng; với những câu hỏi kinh tế học từ trăm năm nay “sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào”. Sự điều phối theo chuỗi ngành hàng, tính liên kết vùng, tiểu vùng giữa các địa phương được chú trọng ngay đầu mùa vụ, chứ không phải chỉ tập trung xử lý khi nông sản ùn ứ sau thu hoạch. Mỗi địa phương có thể chủ động mở rộng không gian liên kết, phát triển trong không gian có sự điều phối cả vùng. Đất đai có thể manh mún, địa giới hành chính có thể bị chia cắt, nhưng không gian phát triển không thể manh mún, không gian kinh tế không thể bị chia cắt…

Cơ hội phát triển mới cho vùng ĐBSCL ảnh 5Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan phát biểu. Ảnh: Trung Phạm 

Bộ trưởng Lê Minh Hoan thông tin thêm, vừa qua Văn phòng Điều phối nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL được ra mắt tại TP Cần Thơ. Văn phòng đang thực hiện vai trò điều phối tích hợp thông tin nông nghiệp cấp vùng thông qua số hoá các cơ sở dữ liệu, quy hoạch sản xuất, chuẩn hoá vùng nguyên liệu, chuẩn hoá quy trình sản xuất; kết nối doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu; hình thành chuỗi ngành hàng thông qua các Hiệp hội ngành hàng bắt đầu từ chuỗi lúa gạo, hỗ trợ nâng cao chất lượng hợp tác xã, hình thành mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ; điều phối vận hành các công trình thủy lợi đảm bảo đồng bộ toàn hệ thống. Ngoài ra, hỗ trợ, điều phối các dự án tài trợ quốc tế có tính liên tỉnh, liên vùng, kết hợp hài hoà giữa đầu tư công trình và các giải pháp phi công trình, mở ra không gian kinh tế nông thôn. Bên cạnh đó, Bộ NN-PTNT đang tích cực đàm phán, kêu gọi các dự án đầu tư hạ tầng logistic nông nghiệp, nông thôn, trong đó có chuỗi kho lạnh bảo quản nông sản cấp độ liên huyện, liên tỉnh dọc theo sông Hậu và sông Tiền.

“Gần đây, nhiều Tập đoàn, doanh nghiệp lớn đã triển khai những dự án quy mô có tính liên tỉnh, hứa hẹn kích hoạt tiềm năng cho nhiều địa phương. Đó là những tín hiệu lạc quan minh chứng cho sự sáng tạo, năng động và sức sống của đồng bằng. Vấn đề là chúng ta cần nối kết, lan toả những giá trị đó. Khi ấy, mỗi địa phương, với điều kiện đặc thù, thế mạnh riêng biệt, sẽ đóng góp chủ động, hài hoà vào tổng thể không gian kinh tế chung. Khi ấy, đồng bằng sẽ trở thành một thực thể kinh tế hoàn chỉnh, vận hành linh hoạt, năng động. Theo đó, thu hút các doanh nghiệp tiếp tục triển khai và đầu tư vào những dự án quy mô có tính liên tỉnh, kích hoạt tiềm năng cùng lúc cho nhiều địa phương… Giấc mơ của gần 20 triệu người dân đồng bằng Châu thổ sẽ sớm được hiện thực hoá từ ngày công bố Quy hoạch hôm nay…”, Bộ trưởng Lê Minh Hoan kỳ vọng.

Nguồn: SGGP